游客发表
发帖时间:2025-04-04 08:10:18
Ngày 19/8/2024,ÔngTiếnsĩlúavàchuyệncuốnvởchéptaynguyênvẹncảchữcùnghình xem kết quả trực tiếp là một ngày đầu thu buồn của những người nông dân, những học trò, những nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam và thế giới khi nhận nhận được tin dữ: Anh hùng lao động, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân đã rời xa chúng ta để trở về cõi vĩnh hằng.
PGS.TS. Hoàng Văn Phụ (Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên) kể rằng, khi còn là sinh viên đại học (1976-1981) đã được nghe thầy giáo của mình kể về GS. Võ Tòng Xuân. Những năm sau giải phóng, đất nước ta thiếu lương thực trầm trọng, nạn rầy nâu hoành hành dữ dội, làm "cháy" hàng trăm ngàn ha lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Thậm chí có nhiều người nghĩ, có khi phải "đổi cây lúa bằng cây lương thực khác".
Trong bối cảnh ấy, thầy Xuân đã đề nghị Viện lúa quốc tế (IRRI) giúp đỡ giống lúa kháng rầy. Chỉ với 5 gam hạt giống IR36 (giống lúa kháng rầy nâu), thầy Xuân đã không quản nắng mưa cùng sinh viên khoa Trồng trọt Trường Đại học Cần Thơ lúc bấy giờ lội ruộng, tách từng nhánh lúa để nhân nhanh giống lúa này cung cấp cho nông dân. Và "màu xanh no ấm" đã trở lại với người dân nơi đây. Thầy Phụ đã thật sự ngưỡng mộ thầy Xuân kể từ ngày ấy.
Trong ký ức của thầy Phụ, những đóng góp của thầy Võ Tòng Xuân không chỉ góp phần thay đổi diện mạo nông nghiệp của ĐBSCL, mà còn có tác động rất lớn đối với nền nông nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế của Việt Nam nói chung, trong đó có cả vùng núi phía Bắc.
Người mở đường cho hợp tác quốc tế
Khởi đầu vào năm 1987, khi đất nước vừa bước vào thời kỳ đổi mới, thầy Võ Tòng Xuân đã tìm kiếm nguồn tài trợ để đưa bốn hiệu trưởng của bốn trường Đại học Nông nghiệp Việt Nam đi tham quan ở một số nước Đông Nam Á.
Là một trong bốn người được đi thăm quan năm đó, thầy Nguyễn Đậu – hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp III Bắc Thái (sau này là Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) trở về có tâm sự với cán bộ của trường như sau: “Tôi có tội với anh em vì trước đây tôi cấm cán bộ học tiếng Anh. Bây giờ tôi sẽ cho mở lớp tiếng Anh ngay trong trường”. Và lúc đó, thầy Đậu bắt đầu tuyển giảng viên về, mở lớp tiếng Anh đầu tiên. Cũng từ đó mở ra cơ hội hợp tác quốc tế cho Trường Đại học Nông nghiệp III Bắc Thái.
Kể từ đó, Trường Đại học Nông lâm đã phát triển hợp tác quốc tế rất mạnh, là trường có hợp tác quốc tế tốt nhất trong Đại học Thái Nguyên và cũng có thể là tốt nhất trong các trường ở miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ. Thời điểm năm 1987, thầy Võ Tòng Xuân và thầy Nguyễn Đậu chưa biết nhiều về nhau. Nhưng nhờ một lời giới thiệu đi thăm quan của thầy Võ Tòng Xuân đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên tư duy của một người đứng đầu nhà trường.
Một trong những người kế tục thầy Nguyễn Đậu chính là thầy Phụ - người luôn biết ơn, coi thầy Võ Tòng Xuân là ân nhân đã giúp đỡ ông rất nhiều trong sự nghiệp khoa học. Thầy Phụ kể lại, những năm 1980 của thế kỷ trước, cuộc sống rất nhiều khó khăn, sách vở và điều kiện nghiên cứu, làm việc rất thiếu thốn. Vào khoảng tháng 7/1987, thầy Võ Tòng Xuân về thăm trường. Khi thầy Nguyễn Đậu – hiệu trưởng nhà trường dẫn thầy Xuân xuống thăm Tổ nghiên cứu giống lúa của trường (lúc đó thầy Phụ là Phó phòng quản lý khoa học và lao động sản xuất và kiêm tổ trưởng tổ nghiên cứu giống lúa) thì tình cờ thầy Xuân thấy trên bàn làm việc có cuốn vở chép tay rất cẩn thận và tỉ mỉ ghi lại cuốn “Cải tiến giống lúa” của chính GS. Võ Tòng Xuân viết.
Thầy Xuân liền bảo thầy Đậu tìm ngay người chép cuốn sách này cho thầy gặp. Hóa ra người chép sách chính là thầy Phụ đang lội ruộng cấy thí nghiệm ở ngoài đồng. Chẳng là trong dịp đi chỉ đạo sản xuất năm 1984, thầy Phụ ở nhà ông Hà Nhuận (Chủ nhiệm Hợp tác xã Văn Thụ, Bình Gia, Lạng Sơn) và phát hiện ra cuốn sách đó. Cuốn sách quả thật vô cùng quý với thầy Phụ vì ông đang mò mẫm tìm phương pháp lai tạo, chọn lọc giống lúa chịu rét cho vùng miền núi phía Bắc.
Thầy Phụ kể: “Cuốn sách này thật vô cùng quý đối với tôi vào lúc đó vì tôi đang mò mẫm tìm phương pháp lai tạo, chọn lọc giống lúa chịu rét”. Khi đó không có máy photocopy nên ông đã mượn để chép lại. Ban ngày đi hướng dẫn nông dân cấy lúa, tối về lại chép sách bên ánh đèn dầu đến tận đêm khuya. Và cuối cùng ông đã chép nguyên vẹn lại cả chữ và hình vẽ của 400 trang sách để lấy làm tư liệu nghiên cứu và giảng dạy.
Cảm động trước việc này, thầy Xuân có nói rằng: “Thầy thì có quá nhiều sách mà không có thời gian đọc, trong khi các em lại không có sách mà đọc, thầy về sẽ gửi sách cho các em”. Và đúng 3 tuần sau, Tổ nghiên cứu giống lúa nhận được 3 thùng sách thầy Xuân gửi. Vui sướng biết bao nhưng khi mở thùng sách ra thì thầy Phụ cùng đồng nghiệp choáng váng vì toàn sách bằng tiếng Anh, trong khi ông và đồng nghiệp lại chỉ học tiếng Nga.
Chính vì điều này đã thôi thúc thầy Phụ học tiếng Anh, bởi chỉ có ngoại ngữ mới có thể tạo ra bước đột phá trong quá trình tiếp thu tri thức, mở cửa hội nhập. Qua rất nhiều cố gắng, năm 1991, thầy Phụ được thầy Xuân giới thiệu nhận học bổng Thạc sĩ về Hệ thống nông nghiệp tại Đại học Chiang Mai – Thái Lan, đây là 1 trong 9 học bổng – con số ít ỏi để xây dựng Mạng lưới hệ thống canh tác Việt Nam.
Năm 1995, thầy Xuân lại giới thiệu ông nhận học bổng học tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Philippines. Nhớ lại thời kỳ này, thày Phụ xúc động kể: Vào khoảng tháng 8 năm 1990, tiếng Anh của thầy Phụ vô cùng yếu nên không biết làm hồ sơ xin học bổng thế nào. Thầy Xuân đang họp Quốc hội ở 37 phố Hùng Vương đã hẹn thầy Phụ xuống Hà Nội gặp thầy. Sau khi họp xong thầy Xuân xuống quán cafe giúp thầy Phụ khai vào đơn xin học (Application form) để học Thạc sĩ ở Thái Lan. Hôm đó, mẹ thầy Phụ cũng đi theo, gặp thầy Xuân bà có nói: "Bố cháu mất sớm, tôi là đàn bà, nông dân không biết chữ, chỉ biết đẻ ra cháu và nuôi cháu lớn lên, còn học hành sự nghiệp của nó tôi nhờ cậy ở ông giúp cháu". Kỷ niệm này không bao giờ phai mờ trong ký ức của thầy Phụ.
“Cha đẻ” của hệ thống nông nghiệp
Tuy được nhiều người biết đến qua những đóng góp đối với nền nông nghiệp của ĐBSCL nhưng GS.TS Võ Tòng Xuân cũng góp phần làm thay đổi diện mạo nông nghiệp của vùng núi phía Bắc nước ta. Thầy Hoàng Văn Phụ - người gắn bó cả cuộc đời với nông nghiệp miền núi phía Bắc đã kể lại, chính thầy Võ Tòng Xuân là người thành lập Mạng lưới hệ thống canh tác Việt Nam (sau này gọi là Hệ thống nông nghiệp). Hệ thống đó được áp dụng trên cả nước, nhưng ở mỗi vùng miền lại có một đặc trưng riêng. Đối với khu vực trung du, miền núi phía Bắc thì đó là Hệ thống canh tác trên đất dốc bền vững.
Khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước là thời gian thành lập hệ thống canh tác này. Trước đó, người nông dân chỉ sản xuất theo phương pháp truyền thống là phát nương làm rẫy khiến năng suất không cao mà còn ảnh hưởng nhiều đến môi trường, tăng nguy cơ phá rừng làm xói mòn, sạt lở đất.
Khi Hệ thống canh tác trên đất dốc bền vững với các mô hình SALT-1, 2, 3 ra đời, nông nghiệp vùng này từ thế độc canh chuyển sang đa canh với các loại cây nông nghiệp, cây công nghiệp, cây cải tạo đất, làm đường băng chống xói mòn đất và kết hợp với chăn nuôi và rừng. Hiệu quả của hệ thống này đến rất nhanh khi giúp giữ nước, giữ đất, tăng năng suất cây trồng ổn định và làm đa dạng sản phẩm gồm cây lương thực thực phẩm, cây công nghiệp, cây dược liệu kết hợp với cây thức ăn gia súc để phát triển chăn nuôi, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Hệ thống canh tác ban đầu chỉ tập trung sản xuất để tăng sản lượng vì người nông dân những năm đó đang thiếu lương thực. Sau khi người nông dân có cái ăn rồi thì người ta thấy rằng, trong nông nghiệp còn nhiều vấn đề khác chứ không chỉ là sản xuất. Đó còn là các vấn đề xã hội, y tế, giáo dục... Từ đó, mô hình khuyến nông ra đời, làm thay đổi tư duy nhận thức từ "Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật" của cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật và người nông dân sang "Phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn bền vững". Chính những thay đổi đó đã thay đổi hoàn toàn diện mạo nền nông nghiệp của vùng Trung du, miền núi phía Bắc.
Thầy Hoàng Văn Phụ cho rằng, không hề nói quá khi nói thầy Võ Tòng Xuân là cha đẻ của Hệ thống nông nghiệp của Việt Nam. Hệ thống được thực hiện trên cả nước và vẫn áp dụng cho đến ngày hôm nay.
Là người gắn bó với nông nghiệp Vùng trung du, miền núi phía Bắc, thầy Hoàng Văn Phụ khẳng định, những đóng góp của thầy Võ Tòng Xuân đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn cả nước là rất to lớn. Thầy Võ Tòng Xuân là người đã mở cửa, đưa chuyên gia, đưa các chương trình dự án, giao lưu hợp tác quốc tế và đóng góp các dự án cho phát triển nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn. Đó là người đã đặt nền móng cho hợp tác quốc tế, thay đổi đào tạo nguồn nhân lực và nền nông nghiệp của vùng núi phía Bắc này.
“Nhiều người gọi Nghị quyết 120 là “Nghị quyết vàng”, còn theo tôi, đó là Nghị quyết gỡ 'vòng kim cô' trên đầu người nông dân, giúp nông dân đổi đời” - lời GS Võ Tòng Xuân.
相关内容
随机阅读
热门排行
C谩c n瓢峄沜 coi tr峄峮g v脿 l岷痭g nghe 媒 ki岷縩 c峄 Vi峄噒 Nam trong tham gia x峄 l媒 c谩c v岷 膽峄 ph峄ヽ t岷 峄 khu v峄眂 ch芒u 脕 nh瓢 Iran, Hong Kong, Rakhine (Myanmar)鈥 D瓢 lu岷璶 b谩o ch铆 v脿 gi峄沬 h峄峜 gi岷 qu峄慶 t岷 c贸 nhi峄乽 b矛nh lu岷璶 t铆ch c峄眂 v峄 膽贸ng g贸p c峄 Vi峄噒 Nam t岷 H膼BA, 膽岷穋 bi峄噒 膽茫 c贸 nh岷璶 膽峄媙h cho r岷眓g Vi峄噒 Nam l脿 t芒m 膽i峄僲 ch煤 媒 c峄 to脿n c岷 v峄沬 v峄 tr铆, uy t铆n v脿 鈥渢r峄峮g tr谩ch k茅p鈥 trong n膬m 2020.
Ti岷縫 t峄 th煤c 膽岷﹜ quan t芒m, 瓢u ti锚n c峄 Vi峄噒 Nam
Nh峄痭g th脿nh c么ng b瓢峄沜 膽岷 n贸i tr锚n l脿 ti峄乶 膽峄 quan tr峄峮g 膽峄 Vi峄噒 Nam ti岷縫 t峄 ph谩t huy vai tr貌, 膽贸ng g贸p c峄 m矛nh t岷 H膼BA. Ch煤ng ta 膽茫 v脿 膽ang ho脿n thi峄噉 c谩c k岷 ho岷h c峄 th峄 膽峄 th煤c 膽岷﹜ h啤n n峄痑 c谩c quan t芒m, 瓢u ti锚n v峄 t膬ng c瓢峄漬g ch峄 ngh末a 膽a ph瓢啤ng v峄沬 vai tr貌 trung t芒m c峄 Li锚n H峄 Qu峄慶聽v脿 c谩c t峄 ch峄ヽ khu v峄眂; th煤c 膽岷﹜ t么n tr峄峮g lu岷璽 ph谩p qu峄慶 t岷 v脿 Hi岷縩 ch瓢啤ng Li锚n H峄 Qu峄慶; t谩i thi岷縯 h岷璾 xung 膽峄檛, trong 膽贸 c贸 kh岷痗 ph峄 h岷璾 qu岷 bom m矛n; ho岷 膽峄檔g g矛n gi峄 h貌a b矛nh; v岷 膽峄 nh芒n 膽岷 v脿 b岷 v峄 th瓢峄漬g d芒n trong xung 膽峄檛 v农 trang..., th么ng qua nh峄痭g 膽贸ng g贸p xuy锚n su峄憈 trong c岷 nhi峄噈 k峄 2020-2021 v脿 c谩c s峄 ki峄噉 mang t铆nh d岷 岷, nh岷 l脿 trong th谩ng 4/2021 khi Vi峄噒 Nam l岷 th峄 hai l脿 Ch峄 t峄媍h H膼BA.
Tuy t矛nh h矛nh th岷 gi峄沬 v脿 khu v峄眂 c貌n nhi峄乽 di峄卬 bi岷縩 ph峄ヽ t岷 do t谩c 膽峄檔g s芒u r峄檔g c峄 膽岷 d峄媍h Covid-19 v脿 xu th岷 h峄 t谩c, 膽岷 tranh gi峄痑 c谩c n瓢峄沜, Vi峄噒 Nam s岷 quy岷縯 t芒m ho脿n th脿nh t峄憈 tr峄峮g tr谩ch, 膽贸ng g贸p nhi峄乽 h啤n n峄痑 cho c谩c n峄 l峄眂 chung t岷 H膼BA v矛 h貌a b矛nh, an ninh qu峄慶 t岷? v矛 峄昻 膽峄媙h, ph谩t tri峄僴 b峄乶 v峄痭g c峄 c谩c qu峄慶 gia, v脿 v矛 cu峄檆 s峄憂g b矛nh an, th峄媙h v瓢峄g c峄 m峄峣 ng瓢峄漣 d芒n tr锚n th岷 gi峄沬.
鈥淣g瓢峄漣 d芒n n瓢峄沜 n脿o c农ng y锚u chu峄檔g h貌a b矛nh, c农ng ch谩n gh茅t chi岷縩 tranh, c农ng mu峄憂 膽瓢峄 t峄 do, 膽峄檆 l岷璸鈥? quan 膽i峄僲 c峄 Ch峄 t峄媍h H峄 Ch铆 Minh 膽瓢峄 tr铆ch d岷玭 trong ph谩t bi峄僽 c峄 Vi峄噒 Nam t岷 phi锚n h峄峱 c岷 cao ng脿y 8/5/2020 c峄 H膼BA nh芒n d峄媝 k峄 ni峄噈 75 n膬m k岷縯 th煤c Chi岷縩 tranh Th岷 gi峄沬 th峄 hai c农ng ch铆nh l脿 m峄 ti锚u ph岷 膽岷, n峄 l峄眂 nh岷 qu谩n c峄 Vi峄噒 Nam khi 膽贸ng g贸p v脿o c么ng vi峄嘽 c峄 H膼BA Li锚n H峄 Qu峄慶 trong th峄漣 gian t峄沬.
L锚 Ho脿i Trung
Ph贸 T峄昻g th瓢 k媒 LHQ Atul Khare c岷 啤n nh峄痭g n峄 l峄眂 c峄 B峄噉h vi峄噉 D茫 chi岷縩 膽峄 ra c谩c bi峄噉 ph谩p ch峄憂g Covid-19, v脿 膽峄 xu岷 Vi峄噒 Nam t膬ng c瓢峄漬g ho岷 膽峄檔g n脿y h啤n. 聽 聽
友情链接